Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018

Báo cáo: Android Market gần 6 tỷ lượt tải xuống; Ứng dụng thời tiết đang tạo mưa tạo gió

Android Market tiếp tục phát nổ. Số liệu thống kê gần đây được ban bố bởi công ty nghiên cứu Ovum dự đoán rằng lượt tải xuống ứng dụng trên thị trường của Android có thể đạt 8,1 tỷ trong năm nay, so với 6 tỷ cho iOS, với tổng số lượt tải xuống ứng dụng dự định ​​tăng lên 144% trong năm nay. bữa nay, công ty nghiên cứu di động Research2Guidance đang phát hành mỏng cung cấp cái nhìn chi tiết về tăng trưởng hiện tại của thị trường học lập trình Android , xu hướng đang thịnh hành và danh mục áp dụng nào đang kiếm được nhiều tiền nhất.

 

Theo truyền thống, miễn phí, các ứng dụng tương trợ quảng cáo đã gobbled lên hầu hết các phần trong thị trường Android. Nhưng những gì về những ứng dụng trả tiền, họ kiếm được bao lăm tiền và họ có xứng đáng không? Công ty nghiên cứu nhận thấy rằng, trong tháng 8, doanh thu tích lũy từ mỗi danh mục đổi thay từ 300 đô la đến 21.000 đô la, với ứng dụng Android nhàng nhàng đã tạo ra 2.500 đô la kể từ khi xuất bản. dù rằng đây không phải là mức trung bình boggling, nhưng nó cũng không quá tệ. Hơn nữa, công ty nghiên cứu nói rằng, chỉ bằng cách "chọn loại ít cạnh tranh và có mức giá cao hơn, nhà phát triển có thể tăng doanh thu tiềm năng của họ lên 900%".

Về mặt danh mục, đáng sửng sốt là gần một phần tư của quờ quạng các vận dụng được tải xuống trên Android Market là trò chơi, vì đây là danh mục phát triển lớn nhất và nhanh nhất trên cửa hàng áp dụng, được các nhà phát triển chuộng trên bảng. Tuy nhiên, có vẻ như sự cạnh tranh khốc liệt trong không gian chơi game đã dẫn đến việc giảm doanh thu vì tiềm năng kiếm tiền giảm trong vài tháng qua.

Mặt khác, điều đáng ngạc nhiên hơn là danh mục áp dụng sinh lợi nhất trên thị trường: trung bình, các vận dụng thời tiết đã tạo ra tổng doanh thu cao nhất từ ​​các lượt tải xuống có trả tiền. Một phần lý do cho việc này là việc lựa chọn bị giới hạn và đây thực sự là ứng dụng phải có cho mọi người dùng điện thoại sáng dạ - chúng tôi muốn biết liệu chúng ta sắp đi vào cơn lốc xoáy hay không. cố nhiên, trường hợp dùng là rất cụ thể, và hầu hết là không thích dùng (hoặc phát triển) nhưng một ứng dụng thời tiết khác. Chỉ có rất nhiều khả năng.

Thay vào đó, công ty nghiên cứu đã khuyên các nhà phát triển nên cân nhắc đổi mới các phương tiện kinh doanh - người dùng không phản đối việc trả giá cho một vận dụng kinh dinh tốt, giúp cải thiện hiệu quả, và không gian. phần còn lại.

Nhưng làm thế nào về sự tăng trưởng của cửa hàng vận dụng? Theo vắng, Android Market vẫn đi trước App Store của Apple về mặt bổ sung nội dung. Trong tháng 8, cửa hàng đã tăng hơn 20.000 vận dụng, trong thời kì đó, Apple đã bổ sung thêm 15 nghìn áp dụng khác vào iPhone App Store của mình. Tính đến đầu tháng này, tổng số áp dụng trong Android Market là 277,252 và tỷ lệ vận dụng phải trả vẫn giữ ở mức 35%, với giá bán nhàng nhàng của những áp dụng trả phí đó là $ 3,13.

Android Market đang đạt gần 6 tỷ tổng số lượt tải xuống, mức này sẽ đạt được vào giữa tháng 9, bẩm cho biết và mỗi tuần có gần 1.500 nhà xuất bản mới dự cửa hàng.

Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2018

Snapchat ra mắt tính năng Gửi và Yêu cầu Vị trí đáng sợ hơn

Snapchat đang thực hành một cảnh quay khác tại vị trí sau khi bản đồ Snap-Broadcast phối hợp phát sóng của nó đã chứng minh một chút xâm lấn đối với một số người dùng. Snapchat giờ đây cho phép bạn gửi vị trí liên tục trong thời gian thực của mình cho bạn bè hoặc yêu cầu vị trí của họ hiển thị trên Bản đồ chụp và trong chuỗi tin nhắn của bạn.

Về căn bản, đây là san sớt vị trí được xây dựng cho những người nhà thiết yêu thích Snapchat, chứ không phải là ý tưởng kỳ lạ và lạ lẫm khi đưa ra một loạt các địa chỉ liên hệ của bạn truy cập vào vị trí của bạn ưng chuẩn Snap Map. Vì Facebook, Instagram và WhatsApp đã vô tình khẩn hoang các bản sao Câu chuyện của họ, đó là các tính năng riêng tây, gần gụi hơn với bạn bè như tin nhắn này và tin nhắn không lâu là Snapchat có cảnh quay hay nhất hệ trọng.

NIIT -ICT Hà Nội đã được giới thiệu bởi người đọc của chúng tôi Chand Sethi (cảm ơn!) Và bây chừ Snapchat công nhận rằng nó đang dần dần triển khai cho người dùng iOS và Android trong vài tuần qua. Snap Map, được khởi chạy vào tháng 6 năm ngoái, luôn cung cấp tùy chọn chỉ san sớt với bạn bè cụ thể thay vì quờ chúng. Tuy nhiên, tất ý tưởng về phát sóng vị trí có thể khiến một số người dùng phải ở trong Chế độ Ghost độc nhất vô nhị của tôi. Tính năng mới này là dịp của Snap để đưa chúng lên tàu, một người bạn cùng một lúc.

Giờ đây, khi bạn nhấn và giữ tên của người bạn đó hoặc nhấn nút bánh hamburger ba dòng trên một chuỗi chuyện trò, bạn sẽ nhận được tùy chọn Gửi vị trí hoặc Địa điểm đề nghị. Nó chỉ hoạt động với bạn bè hai hướng, vì thế bạn không thể đề nghị vị trí ngôi sao Snap yêu thích của bạn nếu họ không theo dõi bạn và bạn có thể tắt yêu cầu trong cài đặt của mình nếu mọi người đang gửi spam cho bạn.

Vị trí được san sớt phê chuẩn tính năng này sẽ chỉ cập nhật trực tiếp trong tám giờ sau khi bạn mở áp dụng lần cuối. Bạn có thể hủy quyền truy cập của ai đó bất kỳ lúc nào duyệt Bản đồ chụp. Và nếu bạn chưa bao giờ bật tính năng này, trước hết bạn sẽ đi qua luồng chấp thuận vị trí.

 

Bằng cách cho phép người dùng nhúng ngón chân vào, Snapchat có thể khiến nhiều người dùng hoạt động hơn trên Bản đồ chụp. Sau khi ra mắt tháng 6 năm 2017, nó đã đạt 35 triệu người xem hàng ngày, nhưng con số đó là 19 triệu và chìm vào tháng 11, theo dữ liệu bị rò rỉ. Vào tháng 2, khi Snapchat phát hành trên web, Snapchat cho biết họ có 100 triệu người dùng hàng tháng - nhưng vì Snap không bao giờ san sẻ số người dùng hàng tháng và thay vì dựa vào số lượng hàng ngày, thực tiễn là nó phải đi với chỉ số hàng tháng ở đây cho thấy một số bất an về phổ biến.

 

Cùng với Discover, Snap Map đại diện cho một trong những điểm khác biệt tốt nhất của áp dụng. Đầu tư vào cải tiến ở đây là khôn ngoan. Xét cho cùng, nó có thể chỉ là vấn đề thời gian trước khi chúng ta thấy Bản đồ Insta.

Thứ Năm, 24 tháng 5, 2018

Thử nghiệm thâm nhập - Hacking Có Đạo Đức

Sự phát triển nhanh chóng của Internet đã đổi thay cách sống cho mọi người. Những ngày này, hầu hết các công trình tư nhân và công cộng đều phụ thuộc vào internet. Tất cả các kế hoạch làm việc bí mật của Chính phủ và các hoạt động đều dựa trên internet. Tất cả những điều này làm cho cuộc sống rất đơn giản và dễ dàng tiếp cận.

Nhưng với tin tốt, đó cũng là một khuôn mặt đen tối của sự phát triển này, nghĩa là, tên phạm nhân hình sự. Không có giới hạn địa chính trị của những tin tặc hình sự này, họ có thể hack bất kỳ hệ thống nào từ bất kỳ nơi nào trên thế giới. Họ có thể làm hỏng dữ liệu bí hiểm và lịch sử tín dụng rất nặng.

Vì vậy, để bảo vệ khỏi các tin tặc hình sự, khái niệm về hacker đạo đức phát triển. Chương này đàm đạo về khái niệm và vai trò của một hacker đạo đức.

Ai là đạo đức tin tặc?

Tin tặc đạo đức là các chuyên gia máy tính được pháp luật cho phép để hack một hệ thống máy tính với mục tiêu bảo vệ khỏi các tin tặc hình sự. Một hacker đạo đức xác định các lỗ hổng và rủi ro của một hệ thống và đề xuất cách loại bỏ chúng.

Ai là tin tặc hình sự?

tù hãm hình sự là những chuyên gia lập trình máy tính, những người hack hệ thống khác với ý định ăn trộm dữ liệu, đánh cắp tiền, phỉ báng tín dụng của người khác, xoá sổ dữ liệu khác, tống tiền ai đó, v.v.

Những tên tội phạm hình sự có thể làm gì?

 

Khi một hệ thống bị tiến công, một tên tù nhân có thể làm bất cứ điều gì với hệ thống đó. Hai hình ảnh sau đây C.C. Palmer, được xuất bản trên pdf.textfiles.com, minh họa một ví dụ đơn giản về trang bị tấn công -

 

Đây là ảnh chụp màn hình trang web được chụp trước khi trang web bị tấn công -

 

Hacker hình sự trước khi bị tấn công

 

Và, đây là ảnh chụp màn hình của cùng một trang web sau khi nó bị tấn công -

 

Hacker hình sự sau khi bị tấn công

 

Các Skill-Sets của các hacker đạo đức là gì?

 

 

Các hacker chuyên nghiệp có các kỹ năng sau đây để hack hệ thống một cách đạo đức

 

Họ phải đáng tin cậy.

 

Bất kể rủi ro và lỗ hổng nào, họ phát hiện ra trong khi rà soát hệ thống, họ phải giữ bí hiểm chúng.

 

Khách hàng cung cấp thông tin bí ẩn về cơ sở hạ tầng hệ thống của họ như địa chỉ IP, mật khẩu, v.v. Tin tặc đạo đức cần giữ bí ẩn thông báo này.

 

Tin tặc đạo đức phải có kiến ​​thức về lập trình, mạng và phần cứng máy tính.

 

Họ cần phải có kỹ năng phân tách tốt để phân tách tình hình và phán đoán trước rủi ro.

 

Họ cần phải có kỹ năng quản lý cùng với sự nhẫn nại, vì soát bút có thể mất một ngày, một tuần, hoặc thậm chí nhiều hơn.


Đạo đức đạo đức làm gì?

 

Tin tặc đạo đức, trong khi thực hành rà soát thâm nhập, về căn bản cụ tìm câu đáp cho các câu hỏi sau -

 

Điểm yếu mà một tên tù có thể tiến công là gì?

 

Kẻ tù nhân hình sự có thể thấy gì trên các hệ thống đích?

 

Một tên tội phạm có thể làm gì với thông báo bí hiểm đó?

 

Hơn nữa, một hacker đạo đức là cấp thiết để giải quyết đầy đủ các lỗ hổng và rủi ro, mà ông tìm thấy tồn tại trong hệ thống đích (s). Anh ta cần giảng giải và đề xuất các thủ tục tránh. rốt cục, chuẩn bị một vắng rốt cục về tất các hoạt động đạo đức của mình mà ông đã làm và quan sát trong khi thực hành soát thâm nhập.

 

Các loại tin tặc

 

Tin tặc thường được chia thành ba loại.

  • Black Hat Hackers

Một "hacker mũ đen" là một cá nhân chủ nghĩa có một phần mềm máy tính mở rộng cũng như phần cứng và mục đích của mình là để vi phạm hoặc bỏ qua bảo mật internet của người khác. Hacker mũ đen cũng phổ quát như bánh quy giòn hoặc tin tặc tối.

  • White Hat Hackers

Thuật ngữ "hacker mũ trắng" đề cập đến một hacker máy tính đạo đức là chuyên gia bảo mật máy tính, chuyên về thử nghiệm xâm nhập và trong các phương pháp thể nghiệm có liên can khác. Vai trò chính của ông là đảm bảo an ninh cho hệ thống thông tin của một tổ chức.

 

Các loại tin tặc

  • Grey Hat Hacker

Thuật ngữ "hacker mũ xám" đề cập đến một hacker máy tính có khả năng phá vỡ hệ thống bảo mật máy tính có tiêu chuẩn đạo đức nằm ở đâu đó giữa hoàn toàn đạo đức và độc hại.

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2018

SQL trở lại quyết đấu NoSQL và tương lai của dữ liệu

SQL đã trở lại sau nhiều năm bị bỏ mặc. Thế quái nào? Và ảnh hưởng của việc này đến cộng đồng data?

Từ những ngày đầu của kỷ nguyên máy tính, chúng ta đã từng thu thập một lượng dữ liệu càng ngày càng lớn, liên tiếp đòi hỏi nhiều hơn về năng lực của công nghệ xử lý, phân tích và lưu trữ dữ liệu.
Trong thập kỷ qua, căn do này khiến cho các developer bỏ qua SQL để hướng tới một thứ có các đặc tính có thể mở rộng được là NoSQL: MapReduce và Bigtable, Cassandra, MongoDB…

Tuy nhiên, SQL đang dần trở lại. quờ quạng các nhà cung cấp dịch vụ cloud lớn hiện đều offer database dạng này như Amazon RDS, Google Cloud SQL, Azure Database for PostgreSQL (Azure chỉ vừa mới launch trong năm nay). Theo cách riêng của Amazon, Aurora database (compatible với MySQL-PostgreSQL) trở nên dịch vụ có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất lịch sử AWS.
SQL interface bên trên lớp Hadoop/Spark đấu phát triển. Và chỉ mới tháng trước, Kafka đã tương trợ SQL.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thẩm tra vì sao tình thế lại xoay chuyển trở lại với SQL, và ý nghĩa của việc này đối với giới data engineering và analysis
Phần 1: Một niềm hy vọng mới


Để hiểu tại sao SQL trở lại, hãy bắt đầu ở khởi điểm với lý do tại sao nó được thiết kế
Câu chuyện bắt đầu tại IBM Research trong thời kỳ đầu của thập niên 70, nơi mà cơ sở dữ liệu quan hệ ra đời. Vào thời điểm đó, tiếng nói tầm nã dựa vào logic toán học và ký hiệu. Hai tiến sĩ Donald Chamberlin và Raymond Boyce đã bị ấn tượng bởi mô hình dữ liệu quan hệ, nhưng cũng thấy rằng ngôn ngữ tầm nã sẽ là một nút thắt ngăn cản việc ứng dụng nó.
Họ đã thiết kế một ngôn ngữ truy vấn mới (theo cách của họ): “dễ tiếp cận hơn cho người học lập trình web mà không cần được đào tạo chính quy về toán học hoặc lập trình máy tính.”
Trước thời kỳ của Internet và máy tính cá nhân chủ nghĩa, khi mà ngôn ngữ lập trình C được giới thiệu với thế giới, hai nhà khoa học máy tính trẻ nhận ra rằng, “phần lớn sự thành công của ngành công nghiệp máy tính phụ thuộc vào việc phát triển một nhóm người dùng phổ thông khác, ngoài việc đào tạo các chuyên gia máy tính”.

Họ muốn một tiếng nói truy nã dễ hiểu như tiếng Anh, và cũng bao gồm hệ quản trị cơ sở dữ liệu và thao tác.
Kết quả là SQL, lần trước nhất được giới thiệu với thế giới vào năm 1974. Trong vài thập kỷ sau đó, SQL đã chứng minh được sự phổ biến rộng rãi. Khi các cơ sở dữ liệu quan hệ như System R, Ingres, DB2, Oracle, SQL Server, PostgreSQL, MySQL (và nhiều hơn nữa) đã tiếp quản ngành công nghiệp phần mềm, SQL đã trở thành tiếng nói ưu việt để tương tác đến cơ sở dữ liệu với cộng đồng đông đảo và hệ sinh thái cạnh tranh.
(Đáng buồn, Raymond Boyce chưa bao giờ có thời cơ chứng kiến sự thành công của SQL và chết vì chứng phình mạch não 1 tháng sau khi đưa ra một trong những bài thuyết trình SQL sớm nhất, chỉ 26 tuổi, để lại vợ và con gái).
Trong một tuổi, tuồng như SQL đã hoàn tất thành công sứ mệnh của nó. Nhưng sau đó Internet ra đời.

Phần 2: NoSQL cự

Trong khi Chamberlin và Boyce đang hội tụ phát triển SQL, họ không nhận ra là nhóm kỹ sư thứ hai ở California khi ấy đang làm việc cho một dự án khác mà sau đó nó lan rộng và đe doạ sự tồn tại của SQL. Dự án đó là ARPANET, và vào ngày 29 tháng 10 năm 1969, nó đã ra đời.
Nhưng SQL đã đích thực tốt cho đến khi một kỹ sư khác xuất hiện và phát minh ra World Wide Web, vào năm 1989.
Giống như một loại cỏ dại, Internet và Web đã phát triển mạnh mẽ, phá vỡ thế giới của chúng ta bằng nhiều cách, nhưng đối với cộng đồng dữ liệu, nó gây ra một vấn đề nhức đầu: nhiều nguồn tạo ra dữ liệu mới với khối lượng và vận tốc cao hơn trước.
Khi Internet tiếp chuyện phát triển và phát triển, cộng đồng phần mềm đã phát hiện ra rằng cơ sở dữ liệu quan hệ lúc đó không thể xử lý nổi. Có một sự hỗn loạn, kiểu như hàng triệu database thốt nhiên kêu khóc và bị quá tải.

Sau đó, hai gã khổng lồ mới của Internet đã đột phá và phát triển các hệ thống non-relational phân tán của riêng họ để giúp giải quyết vấn đề này: MapReduce (xuất bản năm 2004) và Bigtable (xuất bản 2006) của Google và Dynamo (xuất bản năm 2007) của Amazon.

Các tài liệu này đã dẫn tới nhiều cơ sở dữ liệu non-relational khác, bao gồm Hadoop (dựa trên MapReduce paper, 2006), Cassandra (lấy cảm hứng từ cả hai bài báo Bigtable và Dynamo, 2008) và MongoDB (2009). vị đây là những hệ thống mới được viết từ đầu, họ cũng tránh SQL, dẫn đến sự gia tăng của phong trào NoSQL.

Thật dễ hiểu vì sao: NoSQL mới và sáng bóng; hứa về scale và power; nó dường như là con đường nhanh chóng để thành công về kỹ thuật. Nhưng rồi những vấn đề bắt đầu xuất hiện.
Các nhà phát triển sớm nhận ra rằng không có SQL đích thực là khá hạn chế. Mỗi cơ sở dữ liệu NoSQL cung cấp ngôn ngữ truy vấn duy nhất của riêng mình, có tức thị nhiều tiếng nói hơn để học (và dạy cho đồng nghiệp của bạn); gia tăng sự khó khăn trong việc kết nối các cơ sở dữ liệu này với các ứng dụng, dẫn đến dính theo hàng tấn code; thiếu hệ sinh thái của bên thứ ba, đòi hỏi các công ty phải phát triển các công cụ vận hành và biểu diễn dữ liệu riêng.
Những ngôn ngữ NoSQL mới cũng không được phát triển đầy đủ. tỉ dụ, để thêm tính năng JOIN của SQL vào NoSQL rất phức tạp ở tầng application. Sự thiếu JOINs cũng dẫn đến sự không thông thường, dẫn đến sự sụp đổ và kiêm toàn của dữ liệu.
Một số cơ sở dữ liệu NoSQL đã thêm các ngôn ngữ truy tìm “giống SQL”, như CQL của Cassandra. Nhưng điều này thường gây ra vấn đề bợt hơn. sử dụng một giao diện gần giống với một cái gì đó phổ thông hơn, thực thụ ám ảnh về mặt tinh thần: các kỹ sư không biết những gì đã được tương trợ và những gì không được.
Một số trong cộng đồng đã nhận thấy những vấn đề với NoSQL từ sớm (tỉ dụ, DeWitt và Stonebraker trong năm 2008). Theo thời gian, ngày càng có nhiều nhà phát triển phần mềm nhận vờ này.

Phần 3: Sự trở lại của SQL

Ban đầu bị hấp dẫn bởi “lực lượng bóng tối”, cộng đồng phần mềm bắt đầu nhìn thấy ánh sáng và trở lại với SQL.
trước nhất là các giao diện SQL bên trên Hadoop/Spark, hướng NoSQL thành “Not only SQL”
Sự phát triển của NewSQL: cơ sở dữ liệu mới, có thể mở rộng và hỗ trợ SQL. H-Store (xuất bản năm 2008) của MIT và các nhà nghiên cứu ở Brown lần đầu tiên thực hiện mở mang các cơ sở dữ liệu OLTP . Google đấu dẫn đầu việc nhân rộng cơ sở dữ liệu có giao diện SQL với bản bẩm trước hết của họ (xuất bản năm 2012) (những tác giả bao gồm các tác giả gốc MapReduce), tiếp theo là những người tiên phong khác như CockroachDB (2014).
Đồng thời, cộng đồng PostgreSQL bắt đầu hồi sinh, bổ sung các cải tiến quan trọng như kiểu dữ liệu JSON (2012) và một loạt các tính năng mới trong PostgreSQL 10: tương trợ tốt hơn cho phân vùng và replication, hỗ trợ lùng văn bản toàn diện cho JSON và hơn thế nữa (dự định phát hành cuối năm nay). Các công ty khác như CitusDB (2016) và Yours Truly (TimescaleDB, phát hành trong năm nay) đã tìm ra những cách mới để mở rộng PostgreSQL cho các data workload chuyên biệt.
Trên thực tại, hành trình phát triển TimescaleDB của chúng tôi phản chiếu chặt chẽ con đường mà ngành công nghiệp đã trải qua. Các phiên bản nội bộ trước tiên của TimescaleDB bao gồm ngôn ngữ truy vấn SQL-like, gọi là “ioQL.” Vâng, chúng tôi cũng bị cám dỗ bởi mặt tối: việc xây dựng tiếng nói tầm nã riêng của chúng tôi có cảm tưởng là sẽ mạnh mẽ. Tưởng như dễ dàng, chúng tôi lại sớm nhận ra rằng chúng ta phải làm nhiều việc hơn: ví dụ, quyết định cú pháp, xây dựng các kết nối khác nhau, giáo dục người dùng … Chúng tôi cũng tìm thấy chính mình liên tục kiêng kị cú pháp thích hợp với tầm nã mà chúng tôi đã có thể biểu lộ bằng SQL, cho một ngôn ngữ truy vấn mà chúng tôi đã chính tay viết ra!

Một ngày chúng tôi nhận ra rằng xây dựng tiếng nói truy hỏi riêng của chúng tôi không có ý nghĩa. Đó chính là chìa khóa dẫn đến chấp nhận SQL. Và đó là một trong những quyết định thiết kế tốt nhất mà chúng tôi đã thực hiện. tức tốc một thế giới hoàn toàn mới mở ra. ngày nay, dù rằng TimescaleDB chỉ là một cơ sở dữ liệu 5 tháng tuổi, người dùng có thể sử dụng trong production và nhận được bít tất các điều tuyệt: phương tiện trực giác (Tableau), kết nối với các ORM phổ quát, một loạt các tools và các tùy chọn sao lưu, chỉ dẫn phong phú và trả lời syntax trực tuyến, v.v.

Nhưng đừng tin chúng tôi. Hãy thử tìm hiểu về Google
Google rõ ràng là người tiên phong trong lĩnh vực cơ sở dữ liệu và cơ sở hạ tầng trong hơn một thập kỷ nay. Nó khiến chúng tôi để ý đến những gì họ đang làm.
Xem paper của Google(Spanner), phát hành cách đây chỉ bốn tháng (Spanner: Becoming a SQL System, May 2017), và bạn sẽ thấy rằng nó củng cố các phát hiện của chúng tôi.
ví dụ: Google đã bắt đầu xây dựng trên Bigtable, nhưng sau đó phát hiện ra rằng việc thiếu các vấn đề tạo SQL (nhấn mạnh trong tất các trích dẫn dưới đây của chúng tôi):

“dù rằng các hệ thống này cung cấp một số ích lợi của một hệ thống cơ sở dữ liệu, nhưng họ thiếu nhiều tính năng cơ sở dữ liệu truyền thống mà các nhà phát triển ứng dụng thường dựa vào. Một ví dụ quan yếu là một ngôn ngữ truy tìm mạnh mẽ, có nghĩa là các nhà phát triển phải viết mã phức tạp để xử lý và tổng hợp dữ liệu trong các vận dụng của họ. Do đó, chúng tôi đã quyết định biến Spanner thành một hệ thống SQL đầy đủ tính năng, với việc thực hành truy tìm được tích hợp chém với các tính năng kiến trúc khác của Spanner (như tính nhất quán mạnh mẽ và nhân rộng toàn cầu). “

Sau đó trong bài báo họ đấu feature các lý do chuyển đổi từ NoSQL sang SQL:

API gốc của Spanner đã cung cấp các NoSQL methods để tra hỏi và quét dãy các bảng riêng lẻ và xen kẽ nhau. Trong khi NoSQL methods cung cấp một path đơn giản để khởi chạy Spanner, và tiếp tục hữu ích trong các kịch bản thu hồi kết quả đơn giản, SQL đã cung cấp giá trị bổ sung đáng kể trong việc biểu lộ các mẫu truy cập dữ liệu phức tạp hơn và đẩy tính toán vào dữ liệu.

Bài báo cũng biểu thị cách họ không ngừng nghỉ vận dụng SQL vào Spanner, mở mang ra tuốt phần còn lại của Google, nơi mà nhiều hệ thống hiện thời có chung một phương ngữ SQL:

SQL engine của Spanner san sớt một phương ngữ SQL phổ biến, được gọi là “Standard SQL”, với một số hệ thống khác của Google bao gồm các hệ thống nội bộ như F1 và Dremel (các hệ khác) và các hệ thống bên ngoài như BigQuery …
Đối với người dùng Google, điều này làm giảm rào cản làm việc giữa các hệ thống. Nhà phát triển hoặc nhà phân tách dữ liệu có thể viết SQL trong cơ sở dữ liệu Spanner để transfer sự hiểu biết của họ về ngôn ngữ này sang Dremel mà không quan tâm đến sự khác biệt nhỏ về syntax, xử lý NULL, v.v …

Sự thành công của cách tiếp cận này nói lên bản thân nó. Spanner đã là “suối nguồn chân lý” cho các hệ thống lớn của Google, bao gồm cả AdWords và Google Play, trong khi khách hàng tiềm năng của đám mây quan hoài đến việc dùng SQL.
Xét rằng Google đã giúp khởi xướng phong trào NoSQL, thì điều đáng để ý là ngày nay, họ đang nắm bắt SQL .

Điều này có ý nghĩa gì đối với mai sau của data?

Trong computer networking, có một khái niệm gọi là “narrow waist”.
Ý tưởng này xuất hiện để giải quyết một vấn đề mấu chốt: Trên bất kỳ thiết bị nối mạng nào, hãy hình dong một ngăn xếp, với các lớp phần cứng ở dưới cùng và các lớp phần mềm trên đầu. Có thể tồn tại một loạt các phần cứng mạng; na ná có thể tồn tại một loạt các phần mềm và áp dụng. Cần một cách để bảo đảm rằng bất kể vấn đề về phần cứng, phần mềm vẫn có thể kết nối với mạng; và bất kề vấn đề về phần mềm, phần cứng mạng vẫn biết cách xử lý các yêu cầu mạng.
Trong thế giới mạng, vai trò của narrow waist được thực hành bởi Internet Protocol (IP), đóng vai trò như một giao diện chung giữa các giao thức mạng cấp thấp được thiết kế cho mạng cục bộ và các giao thức vận dụng và giao thức cấp cao hơn. Giao diện chung này đã trở thành tiếng nói giữa các máy tính, cho phép các mạng kết nối, thiết bị truyền thông và “mạng lưới các mạng” này phát triển thành Internet phong phú và đa dạng ngày nay.

Chúng tôi tin rằng SQL đã trở nên narrow waist để phân tích dữ liệu.

Chúng ta đang sống trong thời đại mà dữ liệu đang trở thành “nguồn tài nguyên quý báu nhất thế giới” (The Economist, tháng 5 năm 2017). Kết quả là, chúng ta đã chứng kiến ​​sự bùng nổ của các cơ sở dữ liệu chuyên dụng Cambri (OLAP, time-series, document, graph, etc.), các dụng cụ xử lý dữ liệu (Hadoop, Spark, Flink), data buses (Kafka, RabbitMQ). ngày một nhiều ứng dụng cần dựa vào hạ tầng cơ sở dữ liệu này, kể cả là các công cụ trực quan hoá dữ liệu của bên thứ ba (Tableau, Grafana, PowerBI, Superset), các web frameworks (Rails, Django) hay các custom-built data-driven applications.
Giống như networking, stack phức tạp với cơ sở hạ tầng ở dưới cùng và các ứng dụng bên trên. thường ngày, chúng ta sẽ viết rất nhiều code để làm cho stack hoạt động và chúng cần phải được maintain.

Những gì chúng ta cần là một giao diện chung cho phép các phần của stack này liên lạc với nhau. Một điều gì đó đã được chuẩn hóa trong ngành. Cái gì đó sẽ cho phép chúng ta đàm đạo trong / ngoài các lớp khác nhau với thất thoát tối thiểu.

Đó là sức mạnh của SQL. Giống như IP, SQL là một giao diện chung.

Nhưng SQL đích thực khác biệt hơn IP. vì dữ liệu cũng được phân tách bởi con người. Và đúng với mục đích mà người sáng tạo ra SQL gán cho nó thuở Ban đầu: SQL có thể đọc được.
SQL hoàn hảo? Không, nhưng đó là ngôn ngữ mà hầu hết chúng ta biết. Và mặc dù đã có các kỹ sư đang làm việc trên giao diện ngôn ngữ thiên nhiên hơn, những hệ thống này sau đó sẽ kết nối với những gì? Yes, SQL.

vì thế, có một lớp ở trên cùng của stack. Và lớp đó là chúng ta.

SQL đã trở lại

SQL đã trở lại. vì chưng thế giới đang đầy ắp dữ liệu. Nó vây quanh và kết liên mọi người. Lúc đầu, chúng ta dựa vào các cảm quan của con người và hệ tâm thần cảm giác để xử lý nó. hiện giờ phần mềm và các hệ thống phần cứng cũng đủ sáng ý, sự phức tạp của các hệ thống lưu trữ, xử lý, phân tách…chúng thu thập dữ liệu càng ngày càng nhiều hơn để hiểu rõ hơn về thế giới của chúng ta.

Thứ Năm, 10 tháng 5, 2018

Công cụ kiểm thử phần mềm Nhà phát triển QASymphony tăng 5 triệu$

QASymphony, hãng sản xuất các dụng cụ kiểm thử phần mềm như qTest, đã quyên được 5 triệu USD. Công ty có văn phòng tại Atlanta, Georgia và thành thị Hồ Chí Minh, Việt Nam sẽ sử dụng vốn để phát triển và tiếp thị sản phẩm.

 

Khoản tài trợ này được dẫn dắt bởi các đối tác cổ phần của Fulcrum với sự dự của nhà đầu tư BIP Capital trở về và nâng tổng số tiền của QASymphony lên tới 7,5 triệu đô la.

 

 

 

Các nhà sáng lập QASymphony Vũ Lâm và Josh Lieberman cũng điều hành KMS Technology, một nhà cung cấp dịch vụ CNTT và nhà phát triển phần mềm có hội sở tại đô thị Hồ Chí Minh. Trong năm 2010, hai công ty phần mềm bắt đầu chuyển từ phương pháp “thác nước”, phân chia phát triển phần mềm thành các giai đoạn biệt lập được hoàn thành trước khi bắt đầu một phương pháp “nhanh nhẹn”. các phần của dự án.

 

Giám đốc điều hành Dave Keil nói với TechCrunch trong một email rằng nhiều nền móng kiểm thử phần mềm quá chậm cho phương pháp nhanh nhẹn, vì vậy họ đã tạo ra QASymphony vào năm 2011 để cung cấp cho khách hàng những phương tiện ăn nhập hơn. Công ty được tách khỏi KMS trong năm 2014.

 

Khách hàng của QASymphony hiện bao gồm Adobe, Dell, Verizon và Visa. Keil nói rằng công ty đã tăng doanh thu hàng năm từ 400.000 USD lên 3 triệu USD và dự kiến ​​sẽ sớm đạt 10 triệu USD.


QASymphony

 

qTest, được dùng bởi các công ty như Zappos và Salesforce, được thiết kế để cung cấp cho nhà phát triển một vị trí tụ hội để lưu trữ và quản lý tất cả các trường hợp kiểm thử phần mềm của họ và tích hợp với các phương tiện như JIRA của Atlassian, VersionOne và CA Agile Central. qTest eXplorer ghi lại mọi thứ mà trình soát phần mềm thực hiện trong một phiên để chúng không phải ghi lại quờ các thay đổi bằng tay.

 

 

Thực tế là nó được thiết kế riêng cho phương pháp nhanh là một trong những cách chính các sản phẩm QASymphony như qTest phân biệt với các đối thủ cạnh tranh bao gồm trọng tâm Chất lượng HP, IBM Rational và Borland. Những người sáng lập của công ty cũng nói rằng một số khách hàng của họ đã chuyển sang QASymphony từ trọng điểm Chất lượng HP vì phí nền tảng của nó ít hơn và tích hợp thông hơn với các công cụ như JIRA.

 

 

 

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2018

PHÁT TRIỂN APP 4.0 VỚI ANDROID

Nhằm mục tiêu trang bị tri thức về Xây dựng áp dụng (App) và Game trên nền móng Android cho những bạn yêu thích & ham Lập trình Android... NIIT-ICT Hà Nội kết hợp với doanh nghiệp tổ chức khóa đào tạo cấp tốc:

PHÁT TRIỂN APP 4.0 VỚI ANDROID
Link đăng ký: http://bit.ly/khoa-hoc-android-free-thang-5

1. Thời lượng khoá học

- 02 buổi - 06h (3h/buổi), học vào 14/5 và 15/5
- Khai giảng: 18h00 ngày 14/05/2018, tại phòng học tầng 3, tòa nhà 25T2, đường Nguyễn Thị Thập, Cầu Giấy, Hà Nội
2. Đối tượng và đề nghị đầu vào
- quờ các đối tượng đều có thể tham gia khoá học
- Không đề nghị tri thức đầu vào, đào tạo từ con số 0!
3. Nội dung khoá học
Buổi 1:
- thiên hướng công nghệ mới trong hiện tại và ngày mai
- Giới thiệu kiến trúc tổng quan và các đặc điểm của Android
- thời cơ nghề nghiệp với Android
- Demo các sản phẩm Android điển hình
- chỉ dẫn thực hiện tạo App Android
Buổi 2:
- chỉ dẫn các bước phát triển game với Android
- thực hành phát triển game với Android.
4. Cam kết sau khóa học:
- 100% học viên thiết kế được App cơ bản và Game nhỏ sau khóa học
- Từ tri thức nền móng đó các bạn có thể phát triển App lớn và Game lớn hơn
- 30% học lý thuyết, 70% học thực hiện trong khóa học
- giảng sư từ doanh nghiệp có gần 10 năm kinh nghiệp lập trình Android
- Không phát sinh bất cứ 1 khoản phí tổn nào từ học phí - học liệu...
Số lượng có hạn, bạn chỉ cần đăng ký ngay: http://bit.ly/khoa-hoc-android-free-thang-5

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2018

7 cuốn sách hay gối đầu giường dành cho dân lập trình

 Để trở thành một software developer thành công thì bạn sẽ phải đọc một lượng sách nhất quyết về nó. tuy thế, với sự phát triển của internet, giờ đây bạn có tới hàng ngàn đầu sách khác nhau với chất lượng lập lờ. Do đó bài viết này sẽ liệt kê ra 7 cuốn sách được đánh giá là tốt nhất dành cho bất cứ ai muốn theo con đường lập trình phần mềm. 

 

 
Code Complete: A Practical Handbook of Software Construction, Second Edition 

Bạn đã học được làm thế nào để code, nhưng liệu bạn đã học khi nào thì nên viết code và viết về gì chưa? Hơn nữa, có một số điều mà bạn cần phải biết mà thường lại bị bỏ qua bởi nhà trường. Có thể nói cuốn sách này chưa đựng “vàng”.

 
 
The Mythical Man-Month 

 

Hầu hết các vấn đề sẽ xảy ra trong một dự án sẽ được giải thích trong cuốn sách này. Tôi khuyên bạn nên đọc nó trước khi thật sự bắt tay vào làm.
 

 

 

 
The Pragmatic Programmer: From Journeyman to Master 

Là phần tiếp theo của Code Complete và hao hao như cuốn trên, nó cũng chứa đựng đầy tri thức giá trị. 
 
 Design Patterns: Elements of Reusable Object-Oriented Software 

Nó giúp bạn học các meta-pattern của chương trình. Điều này sẽ cho phép bạn hà tằn hà tiện thời kì lẫn công sức khi phát triển một sản phẩm. Hơn thế, Design Pattern sẽ cho ban có nghĩ suy về mọi thứ theo đúng cách.
 

 
 Extreme Programming Explained 

Cuốn sách này dạy cho bạn cách phát triển phần mềm hiệu quả. Đừng lo lắng, rất ít công ty thực sự đòi hỏi phải lập trình cặp.
 

 
 Refactoring: Improving the Design of Existing Code 

Ước mơ của bạn về việc tạo ra bất cứ thứ gì từ con số không có thể sẽ rất khó. Hầu như mọi thứ đều đã có sẵn. Bạn sẽ dành phần đông thời gian làm việc của mình để giải quyết đống code được tạo ra bởi những người đi trước. Và sự thực là bạn hiếm khi có đủ thời kì để viết lại. Thay vào đó, hãy tìm hiểu cách tái cấu trúc nó.
 

 
 UML Distilled: A Brief Guide to the Standard Object Modeling Language, Third Edition 

Khoảng 70% của UML toàn là những thứ vô ích thừa mứa nhưng lại được bán với giá trên trời. Cuốn sách này khuyên bạn đừng nên phí thời gian đi sâu vào nó nhưng phải nắm bắt những điều cơ bản của UML.

Stack Overflow đã phát hành nghiên cứu hàng năm về ngành công nghiệp lập trình.

Công ty cho biết ấn bản 2018 của nó đại diện cho nghiên cứu 'lớn nhất từng có' về thái độ, lương và nhân khẩu học của nhà phát triển...